Bản dịch được thực hiện dựa theo bản biên chú do tác Đỗ Quang Đình (杜光庭, 850–933) viết hay còn gọi là Tả Hữu Nhai Hoằng Giáo Đại Sư, Truyền Chân Thiên Tứ Tử Quảng Thành Tiên Sinh Đỗ Quang Đình (左右街弘教大师传真天赐紫广成先生杜光庭). Ông là đạo sĩ, học giả Đạo giáo nổi tiếng vào cuối đời Đường, đầu thời Ngũ Đại, tự Tân Thánh, hiệu Đông Doanh Tử, từng hoạt động trong cung đình và có nhiều trước tác quan trọng về kinh điển, khoa nghi và thần tiên học.

Trong bản chú giải này, Đỗ Quang Đình triển khai lời kinh qua nhiều phương diện: Đại Đạo, âm dương, vũ trụ quan, tâm tính và phép tu luyện nội thân. Qua đó, người đọc có thể hiểu sâu hơn tư tưởng thanh tĩnh, vô vi và con đường tu dưỡng mà Kinh Thường Thanh Tĩnh truyền tải.

Phần I. Đại Đạo vô hình, vô tình, vô danh

1. Thái Thượng Lão Quân 太上老君

Thái (太) nghĩa là lớn; Thượng (上) nghĩa là tôn quý. Trong hàng cao chân, không vị nào đứng trước; trong chúng Thánh, tất cả đều cùng tôn kính Ngài. Vì vậy gọi là Thái Thượng Lão Quân.

Lão (老) nghĩa là thọ. Điều này nói rõ Lão Quân tu luyện cả trời lẫn đất, tự nhiên được trường thọ, nên gọi là Lão.

Quân (君) là tôn hiệu. Đạo của Ngài thanh tịnh, đức hạnh đạt đến cực điểm, vì vậy gọi là Quân.

Lão Quân là tổ của chúng Thánh, là tông của chư chân thần. Hết thảy vạn vật đều không gì chẳng do Lão Quân chế định, bởi vậy Ngài được tôn làm tông tổ.

2. Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh

说常清静经

Thuyết Thường Thanh Tĩnh Kinh.

Thường (常) nghĩa là phép tắc. Kinh này lấy Thường làm phép tắc, lấy thanh tĩnh làm pháp môn.

Thanh (清) là nguyên; Tĩnh (静) là khí. Kinh (经) nghĩa là phép tắc.

Kinh có hai nghĩa: một là con đường dẫn đến bậc Thánh nhân; hai là bậc thang đưa đến cảnh giới thần tiên. Phàm người học Đạo đều nhờ kinh giới mà thành chân Thánh. Thánh nhân chưa từng có ai không nương vào kinh giới mà lập thân, cũng không ai không nhờ nguyên khí mà thành Đạo.

Chương này được chia thành ba đoạn:

  1. Trước hết nói về Đại Đạo vô hình.
  2. Tiếp theo nói về đạo lý vận hành.
  3. Sau cùng nói về phép tắc vô danh.

Trong đó, ba ý chính là:

  • Thứ nhất: Đại Đạo vô hình.
  • Thứ hai: Đại Đạo vô tình.
  • Thứ ba: Đại Đạo vô danh.

Trước tiên nói Đại Đạo vô hình, có thể tạo thành trời đất, phân định thanh và trọc.

3. Đại Đạo vô hình

Kinh văn

老君曰:大道无形,生育天地。

Lão Quân viết: Đại Đạo vô hình, sinh dục thiên địa.

Tạm dịch:

Lão Quân nói: Đại Đạo không có hình thể, sinh thành và nuôi dưỡng trời đất.

Chú giải:

Đạo (道) là lời nói phát ra khi mở miệng; cũng là tên gọi dùng để diễn đạt bằng lời.

Có thuyết nói: Đạo là khí hư vô, là cội nguồn của hỗn độn, là tổ tiên của Càn Khôn. Có thể hữu, có thể vô, bao trùm cả trời đất.

Đạo vốn không có hình thể, không gì có thể gọi tên được. Cái hình của vô hình, ấy gọi là chân hình; cái tượng của vô tượng, ấy gọi là chân tượng.

Đạo có trước trời đất mà chẳng phải là lâu đời hơn; có sau trời đất mà chẳng phải là già cỗi. Không hình mà tự hiển lộ, không tượng mà tự tồn lập, không làm mà tự hóa sinh. Vì vậy gọi là Đại Đạo.

Kinh nói: “Nhìn mà chẳng thấy”, cho nên gọi là vô hình.

Mờ mịt sâu xa, trong đó có tinh; hỗn hỗn độn độn, từ đó phân thành âm dương, vì vậy mới có trời đất.

Dục (育) nghĩa là nuôi dưỡng. Đạo sinh trưởng nuôi dưỡng âm dương, cho nên gọi là sinh dục.

Dương là thanh, bay lên trên thành trời. Âm là trọc, lắng xuống dưới thành đất.

Trời đất chính là con của Đại Đạo.

Sự vận hành vô tình của Đại Đạo, tức tác dụng của âm dương. Nhật nguyệt chính là tinh khí của âm dương.

4. Đại Đạo vô tình

Kinh văn

大道无情,运行日月。

Đại Đạo vô tình, vận hành Nhật Nguyệt.

Tạm dịch:

Đại Đạo không có tình, vận hành mặt trời và mặt trăng.

Chú giải:

Từ vô mà sinh hữu, nhờ tạo hóa mà thành hình.

Cho nên, trời nếu không có tinh khí thì không thể làm chủ sự sáng của mặt trời, mặt trăng; đất nếu không có tinh khí thì không thể làm chủ mà trấn giữ của núi non; con người nếu không có tinh khí thì không thể duy trì sự tồn tại của thân hình.

Vì vậy nói rằng mặt trời và mặt trăng đều thụ bẩm âm dương mà vận hành.

Do đó biết rằng Đạo tuy vô tình nhưng tùy cơ mà hóa sinh.

Lại rằng: “Trời nào có nói gì? Bốn mùa vẫn vận hành. Đất nào có nói gì? Vạn vật vẫn sinh trưởng.” (Luận Ngữ)

Kinh còn nói: “Dùng mà không thể dùng hết.”

Đó chính là ý nghĩa của việc vô tình mà vận hành nhật nguyệt.

Nhật nguyệt chính là công dụng của Đại Đạo.

5. Đại Đạo vô danh

Kinh văn

大道无名,长养万物。

Đại Đạo vô danh, trường dưỡng vạn vật.

Tạm dịch:

Đại Đạo không có tên gọi, trưởng dưỡng muôn vật.

Chú giải:

Nguyên khí vốn không hình thể, không thể gọi tên.

Kinh nói: “Đạo ẩn khuất, không có danh xưng.”

Đạo chính là nguồn sinh ra trời đất. Vì vậy nói rằng:

Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh muôn vật.

Muôn vật là con cháu của Ngũ Hành. Tam Tài là cha mẹ của muôn vật. Đạo là tổ tông của Tam Tài.

Vì vậy, nguyên khí thanh tĩnh vốn không thể dùng một danh xưng cố định để gọi.

Phàm người học Đạo cần quán xét tông chỉ, xem xét việc thực hành. Nếu trí tính không còn chướng ngại thì có thể bước lên con đường Đại Đạo, ngao du ngoài Tam Tài, đến cảnh giới mà người thường không thể hiểu biết.

Chương trước nói về vô hình, vô danh, vì vậy Đại Đạo có thể vận hành nhật nguyệt.

Hai câu này chính là lời tự xưng của Lão Quân: vốn là vô danh, bất đắc dĩ mới gọi là Đạo.

6. Cưỡng gọi là Đạo

Kinh văn

吾不知其名,强名曰道。

Ngô bất tri kì danh, cưỡng danh viết Đạo.

Tạm dịch:

Ta không biết tên của nó, miễn cưỡng gọi là Đạo.

Chú giải:

Ngô (吾) nghĩa là ta.

Đây là lời Lão Quân tự nói: Ta không biết tên của nó, nên miễn cưỡng gọi là Đạo vậy.

Điều này cũng làm sáng tỏ ý nghĩa của câu: “Bậc Thượng Đức không chấp vào đức, vì thế mới thật có đức.”

Đại Đạo tạo thành trời đất, khai mở Càn Khôn, biến hóa muôn vật, nhưng không nói rằng những việc ấy là do ta làm.

Đạo pháp tự nhiên, vốn không thể đặt thành danh hiệu.

Một là từ hữu đi vào vô, hoặc từ vô đi vào hữu; ẩn hiện không có phương hướng nhất định, tồn tại hay tiêu vong đều tự tại. Há có thể có một danh xưng cố định hay sao?

Vì vậy, kinh nói: “Ta không biết nó là con của ai, hình tượng của nó có trước cả Đế.”

Lại nói: “Ta không biết tên của nó, nên đặt chữ cho nó là Đạo.”

Còn tiếp,…

Để lại một bình luận

Thịnh hành